Thành phần hóa học và công dụng chữa bệnh của bạch truật

Đông y coi bạch truật là một vị thuốc bổ bồi dưỡng, chủ yếu là bổ tì, kiện vị, hóa thấp, chỉ tả (cầm đi ngoài), chữa sốt, an thai, bổ máu, dùng trong các trường hợp sốt, ra mồ hôi, phù thũng, viêm ruột mãn tính. Vậy bạch truật là cây gì, thành phần hóa học như nào mà có tác dụng chữa bệnh tốt như vậy?

Bạch truật còn gọi là ư truật, đông truật, triết truật. Tên khoa học: Atractylodes macrocephala Khoidz. Atractylis macrocephala (Khoidz) Hand. Mazz; Atractylis ovata Thunb. Thuộc họ Cúc Compositae. Bạch truật (Rhizoma Atractylodis macrocephalae) là thân rễ phơi khô hay sấy khô của cây bạch truật. Chữ macrocephala có nghĩa là đầu to, ý nói cụm hoa hình đầu mà lại to.

Mô tả cây bạch truật

Bạch truật là một cây mọc lâu năm, cao tới 80cm. Rễ phát triển thành củ to và mẫm. Lá mọc so le, dai. Lá ở phía thân có cuống dài, phiến lá chia thành 3 thùy rõ rệt, cắt sâu, trông gần như lá riêng, lá ở trên ngọt không chia thùy, cuống ngắn, mép phiến là có răng cưa đều và nhọn. Cụm hoa hình đầu, lớn, tổng bao hình chuông, phiến tổng bao gồm 7 lớp trông như ngói lợp. Tràng hoa hình ống phía dưới màu trắng, phía trên màu tím đỏ, chia làm 5 thùy hình, sợi dài, 5 nhị (trong những hoa cái ở phía ngoài của cụm hoa có nhị thoái hóa). Bậu nhụy có lông trắng, ở đỉnh mang một chum lông dài mượt (dùng để phát tán hoa nhờ gió).

Thành phần hóa học và công dụng chữa bệnh của bạch truật
Thành phần hóa học và công dụng chữa bệnh của bạch truật

Phân bố, thu hái và chế biến

Trước đây ta phải nhập bạch truật của Trung Quốc. Tại đây người ta trồng nhiều nhất ở Triết Giang và Hồ Nam.

Gần đây đã di thực được bạch truật. Nhưng mới bắt đầu đưa ra trồng rộng rãi. Đặc biệt ở nước ta có thể trồng được ở vùng núi cao lạnh và đồng bằng thấp, nóng. Nơi cao lạnh chủ yếu dùng để nhân rộng và giữ giống, đồng bằng thu lấy củ. Trồng bạch truật tại miền núi cao lạnh phải 2-3 năm sau mới thu hoạch củ được. Trồng ở đồng bằng, thời giant hu có thể rút xuống 10-12 tháng. Và tháng 10 âm lịch thì đào lấy thân rễ (khi nào thấy lá ở gốc cây bắt đầu úa vàng thì đào). Sau khi rửa sạch, cắt bỏ rễ con, rồi sấy khô thì gọi là hồng truật hay bạch truật, nếu để nguyên hoặc thái mỏng phơi khô thì gọi là sao hoàng thổ, hoặc sao đến màu vàng đen, có thể sao với cám: 6kg bạch truật thì dùng 400g cám. Phụn một ít rượu rồi sao cho hơi nóng, cho bạch truật đã thái mỏng vào, đảo cho đến khi thấy màu vàng thì rây bỏ cám, lấy bạch truật. Lối sao sau cùng này ít thấy áp dụng ở Việt Nam, nhưng Trugn Quốc hay dùng gọi là phù bì sao bạch truật.

Thành phần hóa học

Trong bạch truật có tinh dầu (1,4%), nhưng thành phần hoạt chất chưa rõ. Có tác giả nói rằng trong bạch truật có atractylola C15H16O và atractylon C14H18O, vitamin A.

Công dụng và liều dùng

Đông y coi bạch truật là một vị thuốc bổ bồi dưỡng, chủ yếu là bổ tì, kiện vị, hóa thấp, chỉ tả (cầm đi ngoài), chữa sốt, an thai, bổ máu, dùng trong các trường hợp sốt, ra mồ hôi, phù thũng, viêm ruột mãn tính.

Theo tài liệu cổ bạch truật vị ngọt, đắng tính hơi ôn, vào hai kinh tỳ và vị. Có tác dụng kiện vị, hòa trung, táo thấp, hóa đờm, lợi tiểu, làm hết mồ hôi, an thai. Chữa tỳ hư trướng mãn, hung cách phiền muộn, tiết tả, thủy thũng, đàm ẩm, trị hãn (mồ hôi trộm), thai khí không yên. Phàm âm hư lại táo kết không dùng được. Dùng dưới dạng thuốc sắc.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Những cây thuốc và vì thuốc Việt Nam – GS. TS Đỗ Tất Lợi.

Nguồn: https://antamvetri.com