Nhân sâm Việt Nam tốt nhất thế giới, khắc tinh của bệnh ung thư

Còn gọi là sâm K5, thuốc giấu (dân tộc Tây Nguyên). Tên Khoa học Panax vietnamensis Hà et Grushv. Thuộc họ Nhân sâm Araliaceae.

Chút ít lịch sử

Cho đến những năm 1985, các nhà thực vật học ở Việt Nam chỉ ghi nhận chính thức có hai loài thuộc chi Panax là Panax pseudoginseng Wall. (Tam thất) vừa mọc hoang dại,, vừa được trồng ở một số tỉnh biên giới phía bắc của Việt Nam và Panax bipinnatifidus Seen. (nhân sâm đốt trúc) phát hiện ở vùng gần Sapa (Lào Cai). Trong tập 1 (1970) Phạm Hoàng Hộ đã mô tả rất ngắn và sơ lược một loài mà tác giả thu thập được ở vùng cao nguyên Lang Biang (Lâm Đồng) được xác định là Panax Schinseng var. japonicum Mak. Nhưng mẫu vật đã bị mất và không tìm được mẫu vật khác.
 
Vào năm 1970, một số nhà khoa học của Viện dược liệu Hà Nội có phát hiện ở vùng Sapa có hai sâm đều cùng chi Panax, trong đó có một loài được xác định là Panax bipinnatifidus Seen. Còn một loài chỉ dừng lại ở loài Panax sp. không thấy có thông báo về thực vật, mà chỉ thấy một thông báo “một số tác dụng dược lý của sâm mới Việt Nam” (Thông báo dược liệu số 19-1973, tr. 22-46) với các tác giả Phạm Duy Mai, Vũ Thị Tâm, Trần Kim Lạng, Hà Ngọc Tuyết.
 
Theo lời các tác giả, do thành phần hóa học (bằng sắc ký lớp mỏng) giống nhau, và dược liệu khô không phân biệt được giữa hai loài Panax một cách dễ dàng, cho nên khi nghiên cứu dược lý, các tác giả phải dùng dược liệu hỗn hợp cả hai loài. Cho nên công trình nghiên cứu không giúp ta phân biệt tác dụng nào là của Panax sp, tác dụng nào là của Panax bipinnatifidus. Chúng ta đã lỡ một dịp đánh giá một loài của Panax sp. mà chúng tôi nghĩ rằng về hình thức bên ngoài sẽ rất gần gũi với loài sâm Việt Nam sẽ nói dưới đây:
 
Đúng 9h sáng ngày 19-03-1973, giữa lúc kháng chiến chống Mỹ đang trong giai đoạn cao độ, một đoàn điều tra dược liệu của miền Trung Bộ, của dược sĩ Đào Kim Long và Nguyễn Châu Giang dẫn đầu đã phát hiện trên được đi từ làng Ku-gia theo sườn Đông Nam dãy núi Ngọc Linh ở độ cao 1.500m hai cây Panax đầu tiên, một cây 9 tuổi, một cây 11 tuổi và đến 19h cùng ngày đã đặ chân vào vùng sâm Ngọc Linh rộng lớn. Đến tháng 9-1985, Hà Thị Dung và I. V. Grushvisky, sau khi nghiên cứu 50 mẫu vật của thế giới đã kết luận sâm Ngọc Linh là một loài mới, một loài Panax đặc hữu của khu hệ thực vật Việt Nam và đặt tên là Panax vietnamensis Hà et Grushv (Tạp trí sinh học, 9-1985, 45-48).

Mô tả cây

Cây thân thảo, sống nhiều năm, cao đến 1m. Thân rễ mập có đường kính 3,5cm, không có rễ phụ dầy dự trữ, đôi khi ở một số cây phần cuối thân rễ có củ gần hình cầu, đường kính đến 5cm.
Nhân sâm Việt Nam tốt nhất thế giới, khắc tinh của bệnh ung thư
Nhân sâm Việt Nam tốt nhất thế giới, khắc tinh của bệnh ung thư
 
Đốt trên cùng của thân rễ tồn tại 1-4 thân. Thân nhẵn cao 40-80cm, rỗng, có 3 mặt hơi tròn có những rãnh nhỏ theo chiều dọc. Lá mọc vòng, thường có 4 (ít khi 3,5,6). Lá kép chân vịt có 5 (ít khi có 6,7) lá chét, lá dài 7-12cm (ít khi 15cm). Lá chét trên cùng hình trứng ngược hoặc hình mũi mác, dài 8-14cm, rộng 3-5cm, đầu lá thường nhọn đột ngột, mũi nhọn kéo 1,5-2cm, góc lá hình nêm, mép lá có răng cưa nhỏ đều, gân bên 19 (ít khi 8-11) cặp dọc theo gân chính và gân bên ở mặt trên lá chét có nhiều lông cứng dạng gai dài đến 3mm, mặt dưới ít hơn. Cụm hoa dài 25cm, gấp 1,5-2 lần chiều dài của cuống lá, thường mang tán đơn độc ở tận cùng, đôi khi có thêm 1-4 tán phụ hoặc một hoa đơn độc. Tán hoa chính đường kính 2,5-4cm, có 50-120 hoa. Hoa có màu vàng lục nhạt, đường kính hoa nở 3-4mm. Bầu 1 ô, 1 vòi (chiếm 80%) đôi khi có 2 ô, 2 vòi (chiếm 20%). Quả khi chín màu đỏ, thường có một chấm đen ở trên đỉnh quả. Quả 1 hạt hình thân, quả 2 hạt có hình cầu hơi dẹt 7-10mm rộng 4-6mm.

Thành phần hóa học

Từ năm 1974 đến 1990, Nguyễn Thời Nhân và cộng sự đã nghiên cứu sâm Ngọc Linh, so sánh với Nhân sâm Triều Tiên (Panax ginseng), Nhân sâm Nhật Bản (Panax japonicus) và Nhân sâm Hoa Kỳ (Panax quinquefollium). Kết quả tóm tắt như sau:
 
Bằng sắc ký lớp mỏng (SKIM) đã phát hiện trong Panax vietnamensis (PV) 15 vết saponin có giá trị Rf và màu sắc tương ứng với 12 hợp chất saponin và Panax ginseng. Chi tiết hơn trong PV có hàm lượng cao chất saponin kiểu damarane (7,58%), trong đó saponin thuộc diol và triol có tỷ lệ 3,32% và một lượng nhỏ saponin của axit oleanolic. Do đặc điểm này, O. Tanaka xêp sâm Ngọc Linh vào nhóm B- (trước đây chỉ có Nhân sâm Triều Tiên và Nhân sâm Hoa Kỳ được xếp vào nhóm này). Điều này trái với quy luật chung là thông thường các cây nhân sâm cho thân rễ phát triển thì thường chứa lượng saponin của axit oleanolic và lượng nhóm axit damarane.
 
Cũng là  lần đầu tiên trên thế giới, người ta triết được một hàm lượng lớn majonnozit R2 và ocotillol saponin trong cùng một loại Panax (chỉ riêng hai chất này đã chiếm 4,34%) gấp 43 lần hàm lượng majonnozit và ocotillol saponin cao nhất trong cây Panax. Ocotillol saponin đã chở thành một hợp chất cần được chú ý có thể đưa thành một tiêu chuẩn phân loại hóa học cho các cây Panax vì nó có thể ảnh hưởng đến một số tác dụng mang tính đặc thù của Panax Việt Nam.
 
Sự có mặt của damarane saponin kiểu ocotillol cũng còn là làm cho sâm Ngọc Linh khác với nhân sâm Triều Tiên, vì cho đến nay người ta chưa tìm thấy ocotillol trong nhân sâm Triều Tiên.
 
Năm 1994, Nguyễn Minh Đức còn chứng minh sâm Ngọc Linh có hàm lượng damarane, saponin cao nhất (12-15%) so với nhân sâm khác chỉ chiếm 10% và số lượng saponin cao nhất (49) so với 26 trong nhân sâm Triều Tiên.
 
Ngoài những saponin nói trên, trong sâm Ngọc Linh còn chứa các polyacetylen. axit béo, axit amin, gluxit, tinh dầu và một số yếu tố vi lượng.

Tác dụng dược lý

Từ 1978 đến 1984, nhiều tác giả nghiên cứu tác dụng dược lý của sâm Ngọc Linh:
Về độc tính đã nghiên cứu thấy với liều 34g/kg thể trọng của bột chiết toàn phần của rễ củ sâm Ngọc Linh đều không trên súc vật thực nghiệm những triệu chứng nào ngộ độc cả.
 
Những thí nghiệm tác dụng trên hệ thần kinh trung ương, tác dụng tăng lực, tăng sức bền của cơ thể, trên nội tiết sinh dục, trên hệ tim mạch… Đều cho những kết quả hoặc tương đương khi thí nghiệm với nhân sâm Triều Tiên. Tuy nhiên sâm Ngọc Linh không gây tăng huyết áp giống như nhân sâm Triều Tiên. Tác dụng này làm cho sâm Ngọc Linh giống Tam Thất hơn.
 
Mặc dầu theo báo cáo của trung tâm nghiên cứu sâm Việt Nam, những kết quả về nghiên cứu hóa học và dược lý nói trên được những nhà nghiên cứu nước ngoài, đặc biệt là Nhật Bản chú ý, nhưng chúng tôi cũng ghi lại đây một số những khác biệt của hai nên y học cổ truyền dân tộc với các nhà y dược hiện đại: Theo những nhà y học cổ truyền, khi nếm vị nhân sâm Triều Tiên, nhất là khi nếm củ sâm, trước hết phải thấy vị ngọt, sau thấy đắng, rồi lại ngọt và ngọt (tiền cam, hậu khổ, hậu cam, cam) khi đang mệt, ngậm một miếng sâm trong miệng một lúc, thấy hết mệt liền, trong người thấy khoăn khóai. Còn sâm Ngọc Linh, khi nếm thì đầu tiên thấy đắng, sau vẫn đắng, và đắng (tiền khổ, hậu khổ, hậu khổ khổ). Hãm hay sắc sâm Ngọc Linh rồi ta ngậm hay uống hầu như không thấy cảm giác khoan khoái. Đó là một điều mà các nhà y học hiện đại cần tìm ra: Do cách chế biến chưa đúng hay các hoạt chất trong củ nhân sâm của ta hiện còn bị một thứ men nào che lấp, không cho thể hiện ngay như nhân sâm Triều Tiên. Hiện nay các nhà bào chế phải phối hợp sâm Ngọc Linh với một số vị thuốc khác để sử dụng được phần tác dụng tốt nhất của sâm Ngọc Linh, đồng thời che lấp những nguyên nhân cản trở mà chúng ta chưa tìm ra.

Công dụng và liều dùng

Do những nguyên nhân đã nói ở trên, hiện nay  sâm Ngọc Linh không thấy được sử dụng và tiêu thụ rễ củ đơn độc như rễ củ nhân sâm Triều Tiên (Panax ginseng). Thường chỉ được sử dụng phối hợp với nhiều vị thuốc khác trong một thang thuốc hoặc một dạng bào chế (viên, nước, xiro…)
 
Dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác cũng với liều 2-6g một ngày. Nhưng việc đáng chú ý hơn cả là việc phát hiện ra sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Hà et Grushv ở dãy núi Ngọc Linh), ở các vùng Tây Nguyên nước ta, cũng như loài nhân sâm Panax sp. ở xung quanh vùng Sapa thuộc dãy núi Hoàng Liên Sơn ở phía bắc cho ta thấy là đất nước Việt Nam cũng có những vị thuốc tốt nhất của y học cổ truyền phương đông trước kia toàn phải nhập. Vấn đề phải nghiên cứu giữ giống, nuôi trồng để đáp ứng mọi nhu cầu về nhân sâm của nhân dân ta.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.