Đương quy cây thuốc quý có xuất xứ từ phương Bắc

Đương quy là loại cây có xuất xứ từ Trung Quốc. Đây là loại cây thân thảo lớn, sống nhiều năm, cao 40 – 80cm, thường phát triển ở các vùng núi có độ cao từ 2.000 – 3.000m với khí hậu ẩm mát. Đây là một loại thuốc quý có thể chưa được rất nhiều loại bệnh, đặc biệt có công dụng bổ huyết.

Còn gọi là tần quy, vân quy. Tên gọi khoa học Angelica sinensis (Oliv). Diels, (Angelica polymorpha Maxim var sinensis Oliv). Thuộc họ Hoa tán apraceae (Umbelliferae). Đương quy (Radix Angelicae sinensis) là rễ phơi hay sấy khô của cây đương quy. Quy là về, vì vị thuốc này có tác dụng điều khí, nuôi huyết, làm cho huyết đang loạn xạ trở về chỗ cũ do đó có tên như vậy.

Mô tả cây đương quy

Đương quy là một loại cây nhỏ, sống lâu năm, cao chừng 40-80cm, thân màu tím có rãnh dọc. Lá mọc so le, 2-3 lần xẻ lông chim, cuống dài 3-12cm, 3 đôi lá chét; đôi lá chét phía dưới có cuống dài, đôi lá chét phía trên không có cuống; lá chét lại xẻ 1-2 lần nữa, mép có răng cưa, phía dưới cuống phát triển dài gần 1/2 cuống, ôm lấy thân. Hoa rất nhỏ màu xanh trắng họp thành cụm hoa hình tán kép gôm 12-40 hoa. Quả bế có rìa màu tím nhạt. Ra hoa vào tháng 7-8.

Đương quy cây thuốc quý có xuất xứ từ phương Bắc
Đương quy cây thuốc quý có xuất xứ từ phương Bắc

Phân bổ, thu hái và chế biến

Đương quy hiện nay ta vẫn phải nhập của Trung Quốc và Triều Tiên. Ta đã nhiều lần thí nghiệm trông nhưng mới thành công trong phạm vi nhỏ sở Sapa tỉnh Lào Cai, chưa phổ biến rộng rãi.

Nhưng mới đây chúng ta đã trồng thành công đương quy ở vùng đông bằng quang Hà Nội do lợi dụng thời tiết lạnh của mùa rét, tuy nhiên chất lượng có khác.

Tại Trung Quốc đương quy được trồng nhiều nhất ở các tỉnh : Cam Túc, Tứ Xuyên, Vân Nam, Thiền Tây.

Hằng năm vào mùa thu gieo hạt, cuối thu đầu đông nhổ cây con cho vào hố ở dưới đất cho qua mùa đông. Qua mùa xuận lại gieo trồng, đến mùa đông lại bảo vệ. Đến mua thu năm thứ 3 có thể thu hoạch. Đào rễ về cắt bỏ rễ con, phơi trong nhà hoặc cho vào trong thùng, sấy lửa nhẹ, cuối cùng phơi trong mát cho khô. Trên thị trường người ta còn phân biệt ra quy đầu là rễ chính và một bộ phận cổ rễ; quy thân hay quy thoái là phần dưới của rễ chính hoặc là rễ phụ lớn.

Quy vĩ là rễ phụ nhỏ, đông y cho rằng tính chất của mỗi bộ phận có khác nhau, nhưng hiện nay ở Trung Quốc người ta cũng đơn giản đi và phần lớn trên thị trường trong nước cũng như xuất khẩu người ta không phân biệt nữa. Toàn rễ cái và rễ phụ được gọi là toàn quy.

Thành phần hóa học

Trong đương quy có tinh dầu. có tác giả đã xác định tỷ lệ tinh dầu là 0,2%, tinh dầu có tỷ trọng 0,955 ở 15oC, màu vàng sẫm trong; tỷ lệ axit tự do trong tinh dầu chiếm tới 40%; thành phần chủ yếu của tinh dầu giống tinh dầu của đương quy Nhật Bản (Dược học thông báo, 1954, trang 432 và thực vật dược phẩm hóa học của Lâm Khải Thọ, tr. 384).

Trong đương quy Nhật Bản Angelica acutiloba (Sieb. et Zucc). Kitagawa Ligusticum acutilobum (Sieb. et Zucc), người ta thấy có tinh dầu. Trong tinh dầu thành phần chủ yếu là n-butylidenphtalit C12H12O2 và n-valerophenon O-cacboxy-axit C12H14O3. Ngoài ra còn có n-butylphtalit C12H14O2, becgapten C12H8O4, sesquitecpen, safroda và một ít vitamin B12.

Tác dụng dược lý

Đương quy được nghiên cứu về mặt dược lý từ lâu. Sau đây là một số tác dụng chủ yếu.

  • Tác dụng trên tử cung và các cơ trơm. Trên tử cung. Đương quy có hai loại tác dụng: Một loại gây kích thích và một loại gây ức chế.
  • Tác dụng trên hiện tượng thiếu vitamin E. Nghê Chương Kỳ suy luận rằng nhân dân sử dụng đương quy làm thuốc an thai phải chăng có quan hệ tới loại tác dụng này.
  • Tác dụng trên trugn khu thần kinh, Tinh dầu của đương quy có tác dụng trấn tĩnh hoạt động của đại não lúc đầu thì hung phấn trung khu tủy sống, sau tê liệt, đưa đến huyết áp thấp, nhiệt độ cơ thể hạ thấp, mạch đập chậm lại và có hiệ tượng có quắp; nhưng nếu tiêm dưới da thỏ thì các hiện tượng trên không rõ rệt, chỉ thấy liệt hô hấp trướ, rồi đến liệt tim.
  • Tác dụng trên huyết áp thấp và hô hấp. Tinh dầu của đương quy có tác dụng làm giảm huyết áp, nhưng thành phần không bay hơi của đương quy lại có tính chất làm co cơ trơn ở thành mạch máu làm cho huyết áp tăng cao.
  • Tác dụng trên cơ tim. Tác dụng trên tim của đương quy giống với tác dụng của quinidine. Thành phần chủ yếu có tác dụng này năm trong phần tan trong ête êtylic
  • Tác dụng kháng sinh. Năm 1950 Lưu Quốc Thăng đã báo cáo nước sắc đương quy có tác dụng kháng sinh đối với trực trùng lỵ và tụ cầu trùng.

Công dụng

Theo đông y đương quy vị ngọt, cay, tính ôn. Vào 3 kinh tâm, can, tỳ. Có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, hoạt trường, điều huyết, thông kinh.

Đương quy là một vị thuốc rất phổ thông trong đông y. Nó là đầu vị trong thuốc chữa bệnh phụ nữ, đồng thời dùng trong nhiều đơn thuốc bổ và trị nhiều bệnh khác.

Chủ yếu chữa bệnh kinh nguyệt không đều, thấy kinh đau bụng; trước khi thấy kinh 7 ngày thì uống. ngày uống 6-15g dưới dạng thuốc sắc (chia là 2 lần uống trong ngày) hoặc dưới dạng thuốc rượu mỗi lần 10ml, ngày uống 3 lần. Uống luôn 7-14 ngày. Còn làm thuốc bổ máu chữa thiếu máu, chân tay đau nhức và lạnh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Những câu thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi

Nguồn: https://antamvetri.com