Công dụng chữa bệnh của Sâm tam thất

Còn có tên kim bất hoán, nhân sâm tam thất, sâm tam thất. Tên khoa học Panax Pseudo-ginseng (Burk). F.H.Chen. Thuộc họ ngũ gia bì Araliaceae.

Tam thất (Panax Pseudo-ginseng) là rễ phơi khô của cây tam thất. Tên kim bất hoán (vàng không đổi) có nghĩa là vị thuốc rất quý, vàng không đổi được.

Tên tam thất có nhiều cách giải thích: Trong sách bản thảo cương mục ghi vì cây có 3 lá ở bên trái, 4 lá ở bên phải (?) do đó có tên tam thất. Nhưng có người lại nói tam =  ba có ý nói từ lúc nó gieo đến lúc ra hoa phải 3 năm. Thất = bảy, ý nói từ lúc gieo đến lúc thu hoạch bán được phải mất 7 năm. Có người nói vì lá tam thất có từ 3 đến 7 lá chét.

Mô tả cây

Tam thất là một loại cỏ nhỏ, sống lâu năm. Lá mọc vòng 3 đến 4 lá một, cuống lá dài 3-6cm, mỗi cuống là mang từ 3 đến 7 lá chét hình mác dài, mép lá có răng cưa nhỏ, cuống lá chét dài 0,6-1,2cm. Cụm hoa hình tán mọc ở đầu cành mang hoa. Có hoa đơn tính, có hoa lưỡng tính, cùng tồn tại. Lá đài 5, màu xanh. Cánh hoa 5, màu xanh nhạt. Nhị 5, bầu hạ hai ngăn. Quả mọng hình thận, khi chín có màu đỏ, trong có hai hạt hình cầu.

Công dụng chữa bệnh của Sâm tam thất
Công dụng chữa bệnh của Sâm tam thất

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây tam thất được trồng từ lâu nhưng với một lượng ít ở tỉnh Hà Giang (Đồng Văn), Lào Cai (Mường Khương, Bát Xát, Phà Lùng), Cao Bằng,… tại các vùng núi cao 1200-1500m. Cần chọn những nơi sườn núi ít gió mạnh, phải làm dàn che nắng và phải rào để bảo vệ chống chuột, sóc hay đến ăn củ. Đất phải được bón phân và chuẩn bị kỹ từ một năm trước, chia thành luống dọc cách nhau 1m. Tháng 10-11 chọn hạt ở những cây đã mọc 3-4 năm. Gieo ngay vào vườn ươm. Tháng 2-3 năm sau mới mọc. Một năm sau, vào tháng 1-2 có thể đào cây con, cắt bỏ lá gốc, trồng vào ruộng chính thức. Sau 3-7 năm mới bắt đầu thu hoạch. Thường cây càng lâu năm rễ củ càng to. Sau khi rửa sạch bùn đất, cắt bỏ rễ con, đem phơi nắng cho hơi héo, đem lăn, vò cho mềm, lại phơi nắng lại vò hoặc lăn; làm như vậy từ 3 đến 5 lần mới phơi cho khô hẳn. Có khi người ta cho vào túi gai lắc cho rễ thành đen bóng là được.

Giá trị thu mua căn cứ vào trọng lượng củ. Người ta chia ra:

  • Loại 1: 105-130 củ nặng 1kg.
  • Loại 2: 160-220 củ nặng 1kg.
  • Loại 3: 240-260 củ nặng 1kg.

Cây Tam thất còn được trồng ở Trung Quốc: Vân Nam, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Giang Tây. Vân Nam trồng nhiều nhất và tam thất Vân Nam được coi là tốt nhất.

Thành phần hóa học

Năm 1937-1941, hai tác giả Trung Quốc Triệu Thừa Cổ và Chu Nhiệm Hoàng đã nghiên cứu và lấy được từ tam thất hai chất saponin: Arasaponin A và arasaponin B.

Arasaponin A (C30H52O10) là một chất bột, dễ tan trong rượu metylic, etylic và amylic, hơi tan trong nước, không tan trong ête và axetôn, độ chảy 195-210oC, năng suất quay cực +23o, kết hợp với axit axetic cho một chất có tinh thể với công thức C30H45O10(CH3O)7 có độ chảy 257o. Thủy phân bằng axit loãng sẽ cho arasapogenin A C17H30O5, đường và hai chất có tinh thể: một có độ chảy 244o, một có độ chảy 252o.

Arasapogenin B (C22H38O10) cũng là một chất bột tan trong nước và rượu metylic, hơi tan trong rượu etylic 100o và rượu amylic, độ chảy 190-200o, độ quay cực +8o. Thủy phân bằng axit trong dung dịch rượu sẽ cho arasapogenin B C29H32O3 có độ chảy 247o và đường trong đó có glucoza.
Năm 1950, Hứa Thực Phương chiết từ tam thất ba chất saponin: Saponin A C48H50O20 tan trong rượu amylic nóng.

Kết hợp với axit axetic khô kiệt, sẽ được một chất có tinh thể C29H5O3(CH3CO) có độ chảy 216o.

Tác dụng dược lý

Năm 1937, hai tác giả Triệu Thừa Cổ và Chu Nhiệm Hoàng đã nhận sẽ thấy tính chất các saponin trong tam thất không giống các saponin thường: Rất ít độc đối với cá: thả cá vàng vào dung dịch 1/1.000 hoặc 1/500 sau 24 tiếng không có hiện tượng trúng độc. Tiêm vào chó đánh mê bằng ête, 1-20mg arasaponin A hoặc B không thấy có sự thay đổi rõ rệt đối với huyết áp, với tim và hô hấp. Đối với khúc ruột cô lập của thỏ và tử cung cô lập của chuột không có sự thay đổi.

Đoàn Thị Nhu, Vũ Thị Tâm và Nguyễn Thị Thọ (Thông báo dược liệu, 1977, 4, 14-20, Hà Nội) đã nghiên cứu tác dụng của tam thất trên súc vật thí nghiệm và đã đi đến một số kết luận như sau:

  • Rễ tâm thất làm tăng khả năng hoạt động của súc vật thể hiện ở kéo dài thời gian bơi của lô chuột thử thuốc so với một lô đối chứng (những chuột này mang một cục chì nặng kẹp ở đuôi để làm chóng mệt).
  • Rễ tam thất có tác dụng làm tăng khả năng đề kháng của súc vật đối với những yếu tố độc hại như liều độc uabain với tim, nhiệt độ môi trường xung quanh quá cao hoặc quá thấp vượt ngoài giới hạn điều hòa của cơ thể.
  • Rễ tam thất có hiện tượng kháng lại hiện tượng giảm lượng prothrombin trong máu thỏ và giảm khả năng máu đông gây thực nghiệm với dicuma-rol.
  • Rễ tam thất khác với nhân sâm không có tác dụng gây tăng huyết áp.

Đối với tác dụng nội tiết

Rễ tam thất thí nghiệm trên chuột cống cái non với liều 5g/kg uống trong 6 ngày đã làm tăng trọng lượng tử cung một cách có ý nghĩa so với lô đối chứng, chứng tỏ tam thất có tác dụng hướng sinh dục trên súc vật cái;

Rễ tam thất thí nghiệm trên chuột cống đực non với liều 5g/kg uống trong 6 ngày không làm thay đổi một cách có ý nghĩa trọng lượng tinh hoàn và tuyến tiền liệt so với chuột đối chứng, chứng tỏ tam thất không có tác dụng hướng sinh dục trên súc vật đực với liều này;

So sánh hoạt tính gây động đực của những rễ tam thất có độ tuổi khác nhau (3 năm và 5 năm) thì rễ tam thất 3 năm chỉ gây động dục 50% số súc vật thí nghiệm với liều 10g/kg trong khi rễ tam thất 5 năm gây cùng tác dụng này với liều 5g/kg. Điều đó chứng tỏ rễ tam thất 3 năm có hoạt tính gây động dục mạnh hơn 2 lần so với rễ tam thất 3 năm.

Nghiên cứu hoạt tính gây động dục của lá và rễ phụ tam thất và căn cứ vào những liều có tác dụng gây động dục với tỷ lệ súc vật tương đương để so sánh thì thấy lá tam thất cso hoạt tính yếu hơn khoảng 20 lần và rễ phụ tam thất có hoạt tính yếu hơn khảng 8-10 lần so với rễ củ tam thất 5 năm.

Nhân xét những kết quả trên đây chúng tôi thấy rằng liều 5g/kg tức là 250g cho người nặng 50kg trong một ngày là không có trong thực tế. Thường người dân chỉ dùng 2-6g một ngày. Cho nên những dẫn liệu trên đây chỉ mang tính chất tham khảo (Đỗ Tất Lợi).

Công dụng và liều dùng

Theo tài liệu cổ: Tam thất vị ngọt, hơi đắng, tính ôn, có 2 kinh can và vị. Có tác dụng hành ứ, cầm máu, tiêu thũng dùng chữa thổ huyết, chảy máu can, lỵ ra máu, đẻ xong máu hôi không sạch, ung thũng, bị đòn tổn thương.

Nhân dân coi tam thất là một vị thuốc cầm máu dùng trong các trường hợp chảy máu, bị đánh tổn thương, vì ứ huyết mà sưng đau. Ngày dùng 4-8g dưới dạng thuốc sắc và thuốc bột. Dùng ngoài có tác dụng cầm máu tại chỗ.

Tại những nơi trồng tam thất, người ta coi tam thất là một vị thuốc bổ không kém gì nhân sâm, dùng thay nhân sâm.

Chú thích

Mặc dù tam thất được trồng ở Hà Giang và Lào Cai từ lâu nhưng hầu như việc sử dụng trong nước là rất hiếm. Phần lớn xuất sang Trung Quốc. Theo tài liệu cũ hàng năm ta nhập từ Vân Nam Trung Quốc chừng 15-18 tấn tam thất để rồi lại xuất sang Hồng Kông.

Gần đây mới được sử dụng rộng rãi trong nước dùng làm thuốc bổ như vị nhân sâm nên có tên gọi là nhân sâm tam thất hay sâm tam thất.

Ngoài vị tam thất chính kể trên, trong nhân dân ta dùng rễ một cây nữa gọi là thổ tam thất hay tam thất. Cây này được xác định là Gynura segetum (Lour) Merr hoặc Gynura pintinafira thuộc học Cúc Asteraceae (Compositae) trồng ở đồng bằng cũng được.

Thổ tam thất là một loại cỏ sống lâu năm, cao chừng 6-90cm. Rễ và lá đều mềm, có nhiều đám đốm tím. Lá to có những thùy to cắt sâu; thùy hình mác, mép có răng cưa. Mùa thu ra cụm hoa hình đầu.

Hoa hình ống màu vàng. Lá và rễ dùng làm thuốc cầm máu như vị tam thất. Có khi dùng chữa rắt cắn.

Một cây thuộc họ Gừng Zingiberaceae loài Stablianthus thorelli Gagnep có thêm rễ nhỏ được bán với tên gọi tam thất. Cần chú ý tránh nhầm lẫn, nhất là mua giá quá đắt một cây trồng rất dễ, ít giá trị. Còn một cây nữa là tam thất Vũ diệp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Những câu thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.